PHÁP MÔN NIỆM PHẬT LÀ PHÁP MÔN THA LỰC, NHƯNG TÍN NGUYỆN TRÌ DANH PHẢI CẬY VÀO CHÍNH MÌNH
PHÁP MÔN NIỆM PHẬT LÀ PHÁP MÔN THA LỰC, NHƯNG TÍN NGUYỆN TRÌ DANH PHẢI CẬY VÀO CHÍNH MÌNH
Pháp môn Tịnh độ niệm Phật là pháp môn nhị lực, cũng gọi là pháp môn tha lực. Đây là điểm khác biệt và cũng là điểm thù thắng của pháp môn Tịnh độ niệm Phật so với các pháp môn khác.
Thế nào là nhị lực? Nhị lực chính là tự lực và tha lực.
Mối quan hệ giữa nhị lực là gì? Là bổ trợ cho nhau, tự và tha không hai, thiếu một cũng không được.
Khi tu học pháp môn Tịnh độ niệm Phật, làm sao để nhận thức đúng đắn về tự lực và tha lực? Làm thế nào để học được nhị lực diệu dụng nhằm thành tựu đại đạo bồ-đề của chính mình? Tôi xin chia sẻ nhận thức và thể hội của bản thân để các đồng tu tham khảo.
Thứ nhất, nhận thức thế nào là tự lực? Thế nào là tha lực?
Tự lực chính là tín nguyện trì danh.
Tha lực chính là Phật lực gia trì.
Thứ hai, nhận thức rằng khi tu học pháp môn Tịnh độ niệm Phật, chỉ đơn độc dựa vào một lực nào cũng đều rất khó thành tựu; nhị lực diệu dụng thì dễ dàng thành tựu.
Thứ ba, tiền đề của diệu dụng là tin tưởng pháp môn này, không hoài nghi. Tin tưởng pháp môn nhị lực chính là “đãi ngộ đặc biệt” dành cho người học Tịnh tông chúng ta.
Thứ tư, bước ra khỏi những sai lầm về nhận thức, pháp môn nhị lực sẽ giúp bạn thành tựu.
Tôi xin nêu ra vài ví dụ về sai lầm để đối chiếu tham khảo:
Sai lầm thứ nhất: coi trọng tự lực, xem nhẹ tha lực. Vì sao xuất hiện tình trạng này? Xét đến tận cùng là do không tin Phật. Có người nói thế này: “Phật không gia trì tôi, Phật quang cũng chẳng soi chiếu tôi!” Có người từng trực tiếp nói với tôi: “Thưa cô, Phật gia trì cô chứ không gia trì con, Phật quang soi cô chứ không soi con.” Người nói lời này, bạn bảo họ có tin Phật không? Họ không hiểu đạo lý “hết thảy pháp từ tâm tưởng sanh.” Cánh cửa tha lực là ai đã đóng lại vậy? Chính họ tự đóng lại. Chỉ dựa vào bản thân thì có tu thành không? Khó lắm!
Hãy lấy một ví dụ: một cây gỗ tròn vừa to vừa dài, nếu một người vác thì có tốn sức không? Có vác nổi không? Nếu hai người, mỗi người vác một đầu, chẳng phải vác lên được rồi sao? Bạn cứ một mực tỏ ra mạnh mẽ tự mình vác, có người giúp mà bạn không cần, vậy thì bạn cứ tự mình vác đi.
Sai lầm thứ hai: coi trọng tha lực, xem nhẹ tự lực. Vì sao có tình trạng này? Xét đến tận cùng chính là bốn chữ: ỷ lại, lười biếng. Tôi nói lời này có chút không khách sáo, nhưng là lời thật. Có người nói, “chẳng phải bảo Phật lực gia trì không thể nghĩ bàn sao? Tôi tin Phật, tôi cứ đợi Phật lực gia trì thôi”. Nhìn bề ngoài họ có vẻ rất tin Phật, nhưng thực chất thì sao?
Kể cho các đồng tu nghe một câu chuyện:
Một người mẹ sinh được một đứa con trai, đứa con này lười biếng vô cùng. Từ nhỏ đến lớn, sinh hoạt hằng ngày đều do mẹ lo liệu, đến cả ăn cơm uống nước cũng là mẹ bón từng miếng từng ngụm. Nói theo hiện nay thì điển hình là một “đứa trẻ to xác bám mẹ”.
Người mẹ già rồi, trước khi lìa đời đã nói với con: “Mẹ sắp đi rồi, không thể hầu hạ con được nữa. Để con không bị chết đói, mẹ làm cho con một chiếc bánh nướng thật lớn, quàng vào cổ. Con nhất định phải nhớ, bánh phía trước ăn hết rồi thì phải xoay cái bánh phía sau ra trước mà ăn.” Đứa con nói: “Con nhớ rồi.” Người mẹ đi rồi, đứa con ăn hết phần bánh phía trước, nhưng nó quên mất lời dặn của mẹ, bản thân không tự xoay bánh lại để ăn, có lẽ nó đang đợi người khác đến xoay giúp chăng.
Chẳng bao lâu sau, đứa con chết, chết vì đói.
Các đồng tu, nhất định phải nhớ kỹ hai câu này khi tu học pháp môn Tịnh độ niệm Phật: “Pháp môn niệm Phật là pháp môn tha lực, nhưng tín nguyện trì danh phải cậy vào chính mình.” Hai câu này bạn nghe hiểu rồi, làm theo rồi, thì bạn tu học pháp môn Tịnh độ niệm Phật sẽ rất thuận lợi trôi chảy, bạn sẽ đạt được lợi ích chân thật, đó chính là diệu dụng.
Nếu có người cứ ỷ lại, lười biếng, khôn lỏi, cái gì cũng muốn hưởng sẵn, thì người đó chẳng làm nên trò trống gì, cái gì cũng học không được. Bánh từ trên trời rơi tự do xuống cũng phải cần chút thời gian, huống hồ là tu hành. Làm gì có chuyện hời như vậy, bánh lại rơi trúng ngay vào miệng bạn.
Sai lầm thứ ba: mỗi ngày cứ rẽ ngang, bao giờ mới đến bờ kia?
Năm 2014, lão pháp sư nêu ra tấm gương trong Phật môn là lão hòa thượng thượng Hải hạ Hiền, đồng thời kêu gọi mọi người học tập theo ngài. Mười năm đã trôi qua, có mấy người đã học? Có mấy người học được thứ chân thật? Có mấy người được lợi ích? Thứ chân thật của lão hòa thượng là gì? Chỉ vỏn vẹn ba chữ: không rẽ ngang. Ba chữ này có mấy người để mắt tới? Lác đác chẳng có ai, vì nó quá bình thường, người ta chẳng buồn ngó ngàng. Đâu biết rằng, bình thường chính là đạo, là đại đạo. Lão hòa thượng 92 năm không rẽ ngang, đã thành tựu đại đạo bồ-đề của ngài. Tấm gương Phật môn như vậy, vì sao chúng ta không học?
Đĩa giảng về lão hòa thượng tôi đã nghe và xem hơn 2.000 lần, thứ chân thật của ngài tôi đã học được, đó chính là: không rẽ ngang. Hơn 20 năm học Phật, bị chèn ép, bị phong sát, tôi chưa từng rẽ ngang một lần nào. Tôi kiên trì tu Tịnh độ trì danh niệm Phật không rẽ ngang, vững tin, nguyện thiết, dốc lòng làm, chắc như bàn thạch, vĩnh viễn không dao động. Tôi cảm ân lão hòa thượng thượng Hải hạ Hiền, vĩnh viễn ghi nhớ ba chữ “không rẽ ngang” của ngài.
Lão hòa thượng thượng Hải hạ Hiền thị hiện niệm Phật thành Phật cho chúng ta, đây là điều mà tất cả chúng sanh đều có thể làm được, không có gì cao siêu hay huyền bí cả. Nếu chúng sanh không làm được thì đã mất đi ý nghĩa biểu pháp rồi. Điều này dạy cho chúng ta một đạo lý vừa cạn lại vừa sâu sắc, đó chính là: đạo lớn cực đơn giản.
Còn nhớ hai bài kệ tụng mà tôi đã nói vào năm 2014 không?
(1)
Một ngôi chùa nhỏ vùng hẻo lánh
Trong ngôi chùa nhỏ có chân đạo
Hải Hiền, Hải Khánh, hai cao tang
Thành đại đạo trong ngôi chùa nhỏ.
(2)
Ăn thì kham khổ
Mặc là đồ vá
Trong lòng an vui
Bởi vì có ngộ.
Lão hòa thượng thượng Hải hạ Hiền thành tựu Phật đạo, đã dùng sự thật chứng minh cho chúng ta thấy: thành tựu Phật đạo không hề liên quan đến địa vị, tài sản, danh tiếng hay tri thức. Vậy nó liên quan đến điều gì? Liên quan đến giới định tuệ, liên quan đến tâm thanh tịnh, tâm bình đẳng, tâm chánh giác, liên quan đến nhìn thấu buông xuống, liên quan đến việc ba tư lương tín nguyện hạnh có đầy đủ hay không. Bằng chứng thực tế của lão hòa thượng thượng Hải hạ Hiền chẳng lẽ còn chưa đủ để chứng minh sao?
Thế nào là chánh pháp? Niệm A-di-đà Phật là chánh pháp. Hằng ngày khuyên người niệm A-di-đà Phật chính là hoằng dương chánh pháp.
Lão hòa thượng thượng Hải hạ Hiền cả đời chưa từng giảng kinh, chưa từng thuyết pháp, không làm Phật sự kinh sám, ngài dùng hành động thực tế, dùng thân giáo để truyền thừa thánh giáo, hoằng dương Phật pháp.
Lão pháp sư nói, thánh giáo không thể truyền thừa thì địa cầu này chính là địa ngục. Ai là người truyền thừa thánh giáo? Là người tái lai. Người thế nào là người tái lai? Là người vô ngã. Thánh giáo cậy vào người vô ngã để truyền thừa. Bạn có phải là người vô ngã không?!
Kinh Vô Lượng Thọ là kinh bậc nhất của Tịnh độ, là chân kinh dạy người một đời thành Phật; chú giải của Hoàng Niệm lão là bản chú giải bậc nhất của Tịnh độ, chân thực đáng tin; lão pháp sư thượng Tịnh hạ Không dựa vào bộ kinh này, bản chú giải này, một câu Phật hiệu này để dạy dỗ chúng sanh, con đường này là chính xác, chúng ta phải kiên định không dời mà bước tiếp. Thật thà niệm Phật không rẽ ngang, đời này nhất định đến bờ kia. Ở đây tôi chân thành khuyên nhủ các đồng tu, vạn lần đừng rẽ ngang nữa, bạn phải nghiêm túc lựa chọn pháp môn tu học khế hợp với căn cơ của mình. Một khi đã chọn rồi, vạn lần đừng thay đổi tới lui. Mỗi ngày cứ rẽ ngang, bao giờ mới đến bờ kia?
Chúng ta sinh ra trong thời loạn, lại gặp năm loạn, uống đắng ăn độc, khổ không nói hết. Tai nạn lớn nhỏ liên miên không dứt, nhân loại muốn tự cứu mình phải dựa vào Phật pháp Đại thừa. Chúng ta rất may mắn, được nghe chánh pháp của Phật, là pháp môn Tịnh độ niệm Phật, lại có minh sư là lão pháp sư thượng Tịnh hạ Không làm đạo sư trên con đường học Phật của chúng ta. Chúng ta may mắn biết bao! Xin hãy trân trọng, hãy trân trọng!
Thật thà niệm Phật không rẽ ngang
Đời này nhất định đến bờ kia
Bước theo dấu chân của Ân sư
Cõi Thường tịch quang lại gặp nhau.
(Trích giảng kinh Vô Lượng Thọ tập 61 giảng lần thứ 3 cô Lưu Tố Vân)
Comments
Post a Comment